Đa số chúng ta đều có tâm lý chủ quan, coi thường một số căn bệnh thông thường như cảm, cúm, viêm họng… vì nghĩ rằng sau một thời gian ngắn bệnh tự nhiên sẽ khỏi. Tuy nhiên nếu không hiểu biết và điều trị kịp thời, đúng cách, có thể sẽ gây nên những tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe. Vì thế mỗi chúng ta nên trang bị những kiến thức y học tối thiểu để trước một triệu chứng, một dấu hiệu đặc biệt, có thể dễ dàng phát hiện sớm một số bệnh thông thường.
Sốt là khi nhiệt độ tăng cao trên 37,50C. Sốt là một dấu hiệu thường gặp nhất của rất nhiều bệnh mà chúng ta cần phát hiện ngay để điều trị kịp thời.
1. Cảm, cúm: Cảm, cúm là 2 bệnh riêng biệt, nhưng có nhiều triệu chứng giống nhau là sốt, ho, sổ mũi, đau nhức mình mẩy, mệt mỏi, trong đó ho và sổ mũi là 2 triệu chứng bắt buộc phải có. Nhiều người đôi lúc mệt hay chóng mặt cũng cho mình là bị cảm, cúm rồi tự mua thuốc trị cảm uống gây vã mồ hôi khiến càng mệt thêm. Nguyên nhân cảm cúm đều do siêu vi trùng (virus) gây ra và sẽ tự nhiên khỏi sau từ 3 đến 7 ngày. Các thuốc trị cảm, cúm thật ra chỉ chữa được những triệu chứng khó chịu như sốt, ho, sổ mũi chứ không diệt được siêu vi gây bệnh. Một số người thích dùng Tifomycine để trị cảm, cúm, thật ra rất nguy hiểm vì thuốc này có thể gây suy tủy, thiếu máu không phục hồi được nữa. Cách phân biệt cảm và cúm rất dễ: Cảm thường xảy ra khi cơ thể bị nhiễm lạnh, mưa, nóng đột ngột và không lây. Trái lại cúm rất hay lây thành dịch, thường cơ thể không tự đề kháng được.
2. Thương hàn: Triệu chứng chỉ có sốt kéo dài mà không có ho và sổ mũi. Sốt trong bệnh thương hàn có đặc điểm là sáng mát, chiều nóng, ngày một tăng dần. Sau một tuần, sốt lên đến 400C, nhưng mạch lại rất chậm, chỉ 80 - 90 lần/phút thay vì 120 lần/phút như những bệnh nhiễm trùng khác. Bệnh nhân thường bị nhức đầu, buồn nôn, tiêu chảy. Nếu sờ tới vùng hố chậu phải của bụng, nghe tiếng ọt ọt rất đặc biệt. Khi thử máu, bạch cầu không tăng, chỉ từ 6.000 - 8.000/mm3, sang tuần thứ hai, thử Widal test dương tính trên 1/100 là chắc chắn bệnh nhân đã mắc bệnh thương hàn.
Hiện nay, đáng tiếc là các chủng vi trùng thương hàn đã kháng với Tifo, Bactrim, Ampicilline nên không còn dùng trong điều trị thương hàn. Thuốc mới là Noroxine 400mg, ngày uống 2 viên trong 14 ngày mới tránh được tái phát, biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh là thủng ruột.
3. Sốt xuất huyết: Sốt xuất huyết là một bệnh thường gặp trong mùa mưa, nguy hiểm cho trẻ dưới 15 tuổi, dễ nhận ra bởi 3 dấu hiệu sau đây: sốt, đau bụng, gan to và đau. Gan to và đau biết được bằng cách sờ dưới hạ sườn phải có một khối, ấn tới cảm thấy đau. Cần nghĩ ngay đến bệnh sốt xuất huyết khi trẻ sốt liên miên, uống thuốc hạ sốt bớt rồi sốt lại, không có ho, không sổ mũi, đặc biệt trẻ bị đau bụng. Nhưng nếu trẻ đau bụng mà không sốt thì không phải là sốt xuất huyết mà có thể do đau bụng lãi.
Thử máu trong sốt xuất huyết thấy tiểu cầu xuống dưới 150 ngàn/mm3, thời gian máu chảy (TS), máu đông (TC) kéo dài ra, dung tích huyết cầu (hématocrite) tăng cao trên 42% do máu cô đặc. Bệnh này cũng do siêu vi, và cũng tự hết sau một tuần. Nguy hiểm nhất là trẻ có thể trở nặng từ ngày thứ ba đến ngày thứ năm, với biến chứng trụy mạch hoặc xuất huyết tiêu hóa (ói và tiêu ra máu). Chưa có thuốc nào diệt được siêu vi gây sốt xuất huyết, nhưng sử dụng dịch truyền đúng mức sẽ làm giảm đáng kể tử vong.
4. Sốt rét: Sốt rét có thể nhận ra dễ dàng khi bệnh nhân run lập cập, đắp bao nhiêu chăn vẫn thấy lạnh, sau đó sốt cao độ và cuối cùng vã mồ hôi; nhưng lại khó nhận ra ở những người sốt liên miên, sốt đi sốt lại. Lưu ý nếu bệnh nhân ngày đầu sốt cao đến 400C thì nên nghĩ đến sốt rét hơn là thương hàn. Những yếu tố phụ có giá trị chẩn đoán sốt rét là tiền sử bị sốt rét, điều trị không đủ ngày và đã sống ở vùng có dịch tễ sốt rét. Người bệnh có góc trong mắt hơi vàng, lưỡi đóng bợn vàng ở giữa rất đặc biệt. Dấu hiệu lách to chứng tỏ bệnh nhân trước đây có bị sốt rét nhiều lần, nhưng không phải là sốt rét hiện tại. Thử máu để tìm ký sinh trùng sốt rét phải tiến hành nhiều lần trong ngày, nhất là lúc bệnh nhân lên cơn sốt. Bạch cầu trong máu thường bình thường, chỉ tăng cao trong sốt rét đái huyết sắc tố (sốt rét huyết niệu). Sốt rét ác tính là thể nặng nhất của sốt rét, nếu trễ dù có cấp cứu tích cực vẫn gây tỷ lệ tử vong rất cao. Tất cả những người hôn mê, sốt trong vùng dịch tễ sốt rét phải nghĩ ngay đến sốt rét ác tính (SRAT). Ngoài ra còn những thể nặng khác như vàng da (SRAT gan mật), thiểu niệu (SRAT suy thận), tiểu đen (SRAT huyết niệu), ói mửa tiêu chảy (SRAT tiêu hóa), khó thở (SRAT thể phổi). Đối với SRAT, dấu hiệu nặng là sốt cao không cắt sau điều trị chứ không phụ thuộc vào mật độ ký sinh trùng trong máu.
5. Viêm họng: Bất cứ trẻ em nào sốt cao cũng cần khám họng, nhất là sốt cao đột ngột. Nhìn vào họng sẽ thấy 2 cục thịt dư sưng to, đỏ, lấm tấm trắng. Nếu có màng trắng dính chặt trên đó phải nghĩ đến bệnh bạch hầu và nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện cấp cứu. Khi có sổ mũi kèm theo thì đó là bệnh viêm họng do siêu vi, không cần dùng đến kháng sinh, chỉ ngậm kẹo bạc hà, súc miệng bằng nước sát trùng là đủ. Không nên dùng Ampicilline để trị viêm họng chỉ phí tiền không đáng.
6. Ban đỏ: Ban đỏ cũng là một bệnh rất hay gặp ở trẻ em, nhưng khác với sốt xuất huyết là khi trẻ bị ban đỏ, sẽ sốt cao liên miên, kèm với ho và sổ mũi, mắt lem nhem. Khám miệng thấy 2 mặt trong của má có những hạt trắng nhỏ như hạt gạo (dấu hiệu Koplick) thì có thể chắc chắn trẻ sẽ ra ban. Bệnh này cũng do siêu vi gây ra, rất dễ lây và cũng tự nhiên khỏi sau một tuần lễ. Thuốc kháng sinh không diệt được siêu vi nhưng ngừa được những biến chứng nguy hiểm của bệnh ban đỏ là viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm phổi... Trẻ chỉ hết sốt hẳn sau khi ban nổi khắp người, ra ban vẫn còn sốt là ban đỏ có biến chứng. Cần lưu ý là nếu trẻ mắc bệnh ban đỏ thì sau bốn ngày, trẻ sẽ ra ban dù có uống thuốc hạ sốt hay không, còn nếu không nổi ban thì trẻ đã mắc bệnh khác chứ không phải ban lậm vào như dân gian thường hay hiểu lầm.
6. Viêm màng não: Đây là bệnh vô cùng nguy hiểm đối với trẻ em, cần chẩn đoán thật sớm, điều trị ngay mới tránh được các di chứng về sau như mù mắt, điếc tai, tâm thần... Khi trẻ sốt, nhức đầu, ói mửa, chúng ta thử gập cổ trẻ vào ngực, nếu gập không được hoặc trẻ lộ vẻ đau đớn (dấu hiệu cổ cứng) thì phải nghĩ ngay đến trẻ đã bị viêm màng não. Đối với trẻ dưới 2 tuổi, dấu hiệu thóp trước phồng lên cũng rất quan trọng để nhận ra viêm màng não. Phải đưa trẻ đến bệnh viện ngay để lấy nước não tủy xét nghiệm xem bị viêm màng não do nguyên nhân nào để có cách điều trị thích hợp. Chúng ta cần biết và phát hiện ngay những bệnh ngoại khoa, không nên tùy tiện dùng các thuốc kháng sinh, giảm đau vì sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm không thể lường được.
7. Viêm ruột thừa cấp: Bệnh này hay gặp, nhiều khi nhận ra dễ dàng nếu bệnh nhân đau đột ngột vùng hố chậu phải (vùng bụng trên háng bên phải), ôm bụng lăn lộn, có kèm theo ói mửa và sốt nhẹ. Nếu ta đặt tay nhẹ nhàng tại hố chậu phải rồi đột nhiên ấn mạnh nơi ấy, bệnh nhân sẽ thấy đau nhói ôm bụng ngồi dậy ngay. Thử máu có bạch cầu tăng trên 9.000/mm3, đa nhân trung tính trên 80%. Nhưng cũng có trường hợp viêm ruột thừa rất khó chẩn đoán vì khởi đầu bệnh nhân đau thượng vị, khiến tưởng lầm là đau dạ dày, nhưng sau đó đau lan đến vùng hố chậu phải rất điển hình. Bệnh viêm ruột thừa không thể dùng thuốc kháng sinh để khỏi phẫu thuật, vì như thế các dấu hiệu sẽ dịu đi, khó nhận ra để can thiệp phẫu thuật kịp thời, dẫn đến biến chứng nguy hiểm nhất là viêm phúc mạc do ruột thừa viêm bị vỡ, tỷ lệ tử vong rất cao, lên đến 50%, dù có mổ ngay chăng nữa.
8. Loét dạ dày và đau bụng lãi: Ở trẻ em, đau bụng lãi rất dễ nhận ra vì thường đau quanh rốn, bụng mềm. Trái lại, ở người lớn đau bụng lãi, đôi lúc lại đau ở vùng thượng vị (vùng đau dạ dày) nên nhiều người đã nhầm, uống thuốc dạ dày không thấy kết quả. Đau bụng lãi khác với đau dạ dày là thường đau lúc sáng sớm chưa ăn, đau rồi hết đột ngột, không kéo dài sau bữa ăn, không ợ chua, còn đau dạ dày thường đau sau bữa ăn, hay ợ chua, đau nhiều ngày liên tiếp. Cần thử phân những người nghi ngờ đau dạ dày (đau ở thượng vị) mà uống thuốc dạ dày không thấy đỡ. Ở những người trên 40 tuổi, đau thượng vị khiến ăn không ngon, thiếu máu dần dần, nếu sờ thấy một khối u thượng vị thì đó là ung thư dạ dày, dự hậu rất xấu. Ở người trẻ tuổi có những triệu chứng như thiếu máu, đau bụng, móng tay, móng chân hư, méo mó, da vàng rơm, nếu là người làm rẫy, đi chân đất thì phải nghĩ đến bệnh giun móc gây thiếu máu, đôi khi rất nặng. Cần thử phân tìm trứng giun móc, dùng thuốc xổ giun móc như Vermox, ngày uống hai viên, uống ba ngày liên tiếp và dùng thêm chất sắt để bổ máu.
9. Viêm dạ dày ruột cấp: Ta thường gọi là trúng thực, nhất là khi bệnh nhân dùng các thức ăn cũ từ hôm trước để lại, đau bụng nhiều, ói mửa, tiêu chảy nhưng bụng vẫn mềm. Nếu không có một trong hai triệu chứng ói mửa hoặc tiêu chảy thì không phải là trúng thực, cần phải cảnh giác một bệnh ngoại khoa nguy hiểm như viêm ruột thừa.
10. Đau bụng do sỏi thận, đường tiểu: Thường đau một bên hông, nhưng không phải đau ngay xương sống hoặc hai bên thắt lưng, kèm theo tiểu gắt buốt. Cơn đau lan dần ra trước bụng, xuống vùng háng, bụng vẫn mềm. Lưu ý là nếu thử nước tiểu có oxalate (+++) cũng chưa thể kết luận là bị sỏi mà bắt buộc phải chụp hình tiết niệu có hoặc không có tiêm chất cản quang, hay siêu âm cũng thấy được sỏi. Đau lưng vùng thắt lưng là đau xương sống chứ không phải là bệnh thận như nhiều người hiểu lầm. Đau thận không liên hệ gì đến khả năng sinh dục cả vì hai quả thận chúng ta chỉ tạo ra nước tiểu.
Cao huyết áp là một bệnh thường gặp ở những người trên 40 tuổi, hầu hết các trường hợp là do vữa xơ động mạch (sờ động mạch khuỷu tay bệnh nhân, thấy cứng như sợi dây thừng). Người béo thường bị bệnh này, nhưng người ốm vẫn có thể mắc bệnh. Cao huyết áp ở người trẻ phải làm nhiều xét nghiệm để tìm nguyên nhân mới có thể trị dứt hẳn, bằng không phải uống thuốc suốt đời. Các nguyên nhân gây cao huyết áp ở người trẻ tuổi có thể là hẹp quai động mạch chủ, hẹp động mạch thận, bướu vỏ hoặc tủy thượng thận… Muốn kết luận một người bị cao huyết áp thì phải đo huyết áp nhiều ngày liên tiếp, tối thiểu là 3 ngày, ngày đo 3 cữ (sáng, trưa, chiều) và mỗi cữ đo 3 lần. Nếu huyết áp những lần đo đó, đều trên 14/9 là cao huyết áp. Huyết áp cao không có nghĩa là dư máu mà chỉ có nghĩa là áp suất trong động mạch tăng cao. Huyết áp gồm 2 số: số trên gọi là số tối đa do sức bóp của tim, số dưới là số tối thiểu do sức cản thành động mạch, có ý nghĩa quan trọng hơn và người ta xếp loại bệnh nặng hay nhẹ tùy theo con số tối thiểu này. Nếu số tối thiểu trên 12 gọi là cao huyết áp ác tính. Hai số tối đa và tối thiểu càng gần nhau thì bệnh càng có nhiều biến chứng nguy hiểm, chẳng hạn 16/12 là bệnh nặng, trái lại 20/10 thì không nặng bằng. Tai biến mạch não là những biến chứng ở não, rất thường gặp ở người cao huyết áp, có các thể lâm sàng chính như sau:
1. Cơn thiếu máu não thoáng qua: Dễ làm bệnh nhân ngã, liệt nửa người, á khẩu, nhưng đặc biệt là người bệnh hồi phục hoàn toàn rất nhanh. Bệnh thường tự khỏi.
2. Xuất huyết não: Đây là tai biến nặng nhất của những người cao huyết áp nhưng không điều trị hoặc không theo dõi thường xuyên. Cơn xuất huyết não thường xảy ra đột ngột sau khi ăn tiệc, đi tiểu đêm. Bệnh nhân đột ngột bị ngã, hôn mê sâu thở phì phò. Khám kỹ sẽ phát hiện liệt nửa người, cao huyết áp, nước não tủy toàn máu. Tuyệt đối không cạo gió trong trường hợp này, vì sẽ càng làm tăng huyết áp dễ gây tử vong hơn. Xuất huyết não có tỷ lệ tử vong rất cao, 90% bệnh nhân chết trong vòng 3 ngày.
3. Nhũn não: Bệnh nhân ngã, liệt nửa người, á khẩu, còn tỉnh hoặc mê nhẹ, huyết áp thường không cao. Nếu điều trị tích cực có hy vọng hồi phục sớm.
Cần phân biệt rõ giữa những bệnh như sau để có cách điều trị thích hợp:
1. Viêm mũi: bệnh nhân sổ mũi, không ho, không sốt.
2. Viêm khí quản: không sổ mũi, ho nhiều, phổi không nghe ran, không sốt.
3. Viêm thanh quản: bệnh nhân không ho, có khàn tiếng, tắt tiếng.
4. Viêm phế quản: bệnh nhân ho nhiều, không sốt, không khó thở, ran ẩm ở phổi, bạch cầu không tăng, hình chụp phổi bình thường.
5. Viêm phổi: bệnh nhân sốt cao, ho nhiều, đau ngực, ran nổ một bên, một vùng phổi bị mờ, bạch cầu trong máu gia tăng.
6. Phế quản phế viêm: thường gặp ở trẻ em, khó thở dữ dội (cánh mũi phập phồng), sốt cao, ran nổ hai bên phổi, chụp hình phổi có mờ rải rác nhiều nơi, bạch cầu trong máu tăng cao.
Ho ra máu (khác hẳn với ói ra máu) gặp nhiều trong các bệnh sau:
1. Lao phổi: Bệnh nhân thường ho ra máu nhiều, nhưng vẫn tỉnh, không chóng mặt, không vã mồ hôi. Ho ra máu thường có lẫn bọt, không có thức ăn, gặp trong bệnh lao phổi nặng (lủng phổi).
2. Loét và viêm dạ dày: Gây ói ra máu làm bệnh nhân chóng mặt, vã mồ hôi, mặt xanh mét, đi cầu ra máu thường đen, sệt, rất hôi. Nếu phân còn đen nhưng đặc là xuất huyết tiêu hóa tạm ngừng. Mỗi khi mua thuốc cảm, chúng ta cần biết chắc là không có tiền sử đau dạ dày vì mọi loại thuốc cảm có Aspirine, thuốc hạ áp như Reserpine, Corticoid, thuốc trị viêm khớp như Butazolidine... đều có thể gây xuất huyết tiêu hóa đột ngột (ói, tiêu ra máu). Nếu đi cầu ra máu tươi thành giọt sau khi đi phân đặc là bị trĩ chứ không phải loét dạ dày. Bệnh kiết lỵ thì phân có đàm lẫn máu; đi cầu ngày nhiều lần, quặn bụng.
Cần phân biệt với da vàng rơm do thiếu máu nặng (da vàng, mắt không vàng, niêm mạc trắng bệch), vàng hai lòng bàn tay do uống Quinacrine (mắt không vàng).
Nước tiểu vàng, mắt không vàng là do bệnh nhân uống thuốc Rimactan.
Vàng da có rất nhiều nguyên nhân nhưng thường gặp nhất là bệnh viêm gan siêu vi và sỏi mật.
1. Viêm gan siêu vi: Bệnh nhân sốt nhẹ như cảm cúm, uể oải, ăn không ngon, một tuần sau hết sốt, vàng da toàn thể (mắt, da, nước tiểu), cơ thể uể oải kéo dài từ 3 - 4 tuần. Bệnh tự nhiên khỏi trong đa số trường hợp, một số ít phát triển thành viêm gan mãn, xơ gan, ung thư gan.
2. Sỏi mật: thường gặp ở phụ nữ trên 30 tuổi, xuất hiện các triệu chứng đau bụng, sốt, sau đó có khi vàng da, ấn vùng hạ sườn phải đau, thử máu bạch cầu trong máu tăng cao.
3. Ung thư đầu tụy: gặp ở đàn ông trên 40 tuổi, da ngày càng vàng sậm, phân bạc màu, ngứa ngáy, hạ sườn phải không đau, không sốt, bạch cầu máu không tăng.
4. Vàng da tán huyết: thường là do bệnh nhân thiếu men G6PD, người bệnh có những cơn tán huyết gây vàng da sau khi uống thuốc cảm, sốt rét, sulfamid...
Tùy theo tuổi, và theo đặc tính khớp đau để phân biệt các bệnh sau:
1. Thấp khớp cấp (RAA): hay gặp ở những người trẻ dưới 20 tuổi. Sau vài năm, bệnh này sẽ gây hư van tim, suy tim... Bệnh thường tấn công các khớp lớn như gối, mắt cá, khuỷu tay, cổ tay, gây sưng, nóng, đỏ, đau, di chuyển từ khớp này sang khớp nọ, không làm hư khớp, thử máu ASLO thấy trên 200 đơn vị (UI).
2. Viêm đa khớp dạng thấp (PCE): thường gặp ở phụ nữ từ 35 - 45 tuổi, đau các khớp lớn và nhỏ (các khớp ngón tay gần bàn tay) Bệnh này không gây suy tim nhưng làm các khớp thương tổn bị cứng, lệch. Thử máu có test de latex (Waaler Rose) dương tính.
3. Thống phong (gút): gặp ở đàn ông trên 40 tuổi, người bệnh thường béo, ít khi gặp ở phụ nữ, đặc biệt là viêm khớp gốc ngón chân cái, thử acid uric máu phải trên 70mg/l với đàn ông và trên 60mg/l đối với đàn bà.
4. Thoái hóa khớp: ở những người trên 50 tuổi, thường gây cứng khớp buổi sáng. Các khớp chỉ đau nhưng không sưng, không đỏ, thường là khớp xương sống, gối, háng... và ngón tay (xa bàn tay), bạch cầu và VS máu đều bình thường. (SKĐS) |